GIA PHẢ CHI PHAN KIÊM TÀI

Đường link đọc Gia phả chi Phan Kiêm Tài đã được chuẩn số hóa, mọi người có thể truy cập link để đọc mọi lúc mọi nơi, giao diện sẽ giống như một cuốn sách online, chỉ cần vuốt màn hình sang trái/phải để đọc rất tiện. Link: https://anyflip.com/ocxmi/dpyy/ .

Gốc > NEO GIỮ HỒN QUÊ >

LÀNG VĂN LÂM XƯA VÀ NAY

n_vn_lm_500
Đền làng Văn Lâm hiện nay (đang được con cháu trong làng chung tay xây dựng lại trên vết tích của nền móng cũ còn lại)

Làng Văn Lâm nay thuộc xã Lâm Trung Thuỷ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Làng hiện nay có hai thôn là Đồng Thanh Lâm và Đức Hương Quang. Dân số của làng hơn 3500 người với diện tích khoảng 150 ha. Nghề chính của người dân là trồng lúa (trước kia có thêm nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải), là vùng đất cày sâu cuốc bẫm, dưa muối nhút cà nhưng là vùng văn hoá dân gian phong phú. Làng có đền làng, chùa, các nhà thờ họ quanh năm thờ phụng thâm nghiêm.

I. Lịch sử hình thành và phát triển

Theo một số tư liệu lịch sử cũng như một số tư liệu dân gian thì thời nhà Lý bắt đầu từ Lý Công Uẩn đã không ngừng việc mở mang, khai phá vùng đất Nghệ Tĩnh, nơi mà họ coi là “tiền đồn, phên dậu” phía nam Đại Việt. Cụ thể vào năm 1041, xét thấy Lý Nhật Quang (con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ) là người tin cẩn, Lý Thái Tông phong ông làm Tri châu Nghệ An - tước hiệu là Uy Minh hầu. Trong thời gian làm Tri châu tại đây, ông đã cho khai phá các vùng đất ven sông La và ven núi Hồng Lĩnh, mở mang được nhiều trang trại. Những công trình khai hoang đó đã biến nhiều vùng đất hoang vu, đồi núi, bãi bồi ven sông, ven biển thành làng, thành xóm, thành đồng ruộng xanh tươi trong đó có vùng đất Cổ Ngu.

Cổ Ngu (là tên chữ phiên âm hai tiếng Kẻ Ngù, cùng với Kẻ Hồ, Trổ, Lim, Kẻ Chay, Bàu) xưa gồm có 4 thôn: Đông Khê, Thuỵ Vân, Trung Lễ và Thượng Ích thuộc tổng Văn Lâm, huyện La Sơn, phủ Đức Quang (sau đổi là phủ Đức Thọ). Trên vùng đất này các dòng họ về đây lập nghiệp đầu tiên là: họ Đinh (Đông Khê); họ Trần, họ Đoàn (Trung Lễ); các dòng họ khác như họ Phan, Lê, Hồ, Phạm, Trần (ở làng Văn Lâm),… từ đời Trần, Lê về sau mới đến đây lập nghiệp.

Làng Văn Lâm được hình thành và phát triển sau các làng Đông Khê, Thuỵ Vân, Trung Lễ và Thượng Ích. Họ Trần (nhà thờ hiện nay ở gần nhà anh Trần Sỹ) là họ đầu tiên về đây lập nghiệp. Trong Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Hồng Đức năm thứ 27 (1496) đặt ở Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) có ghi danh ông Trần Tước (1470-?) người xã Cổ Ngu, huyện La Giang (nay thuộc xã Đức Lâm, huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh) là người con của dòng họ Trần (Văn Lâm). Ông giữ các chức quan như Tri huyện, Giám sát Ngự sử.

Làng Văn Lâm đầu tiên chỉ gồm một số hộ sinh sống tại xóm Thuỵ (có nghĩa là xóm đẹp) - khu vực gần đền làng bây giờ, đây là vùng đất cao ráo. Gia phả họ Phan ghi: Các tổ tiên ta ở Thuỵ Vân về từ năm 1648 (nay là Tường Vân, Đức Thuỷ), chỗ ở đầu tiên là xóm Thuỵ dần dần phát triển lên xóm Thộ”.

Vì là vùng đất sinh sống đầu tiên của làng nên xóm Thuỵ ngày nay có rất nhiều nhà thờ họ được xây dựng ở đây.

Tại sao làng Văn Lâm còn được gọi là làng Tiền Hậu, làng Hoa Lâm, làng Kẻ Sim?

- Làng Tiền Hậu: Trong Hồ sơ lý lịch di tích Đền Voi Mẹp (trang 4) viết: “Đời Trần người dân xã Cổ Ngu nói chung, Trung Lễ, Thuỵ Vân nói riêng đã theo Trần Trùng Quang suốt chặng đường chống giặc Minh xâm lược. Nhà Hậu Trần thất bại trai tráng ở Cổ Ngu đã theo ông Tiền, ông Hậu tụ nghĩa dưới cờ Bình Định vương ở núi Phù giúp Lê Lợi (làng Tiền, làng Hậu ngày nay ở xã Văn Lâm mang tên hai vị đó)”.

- Làng Hoa Lâm: Trước thế kỷ XIX làng Văn Lâm có tên là Hoa Lâm. Đến đầu thế kỷ XIX (năm Thiệu Trị thứ nhất 1841) làng Hoa Lâm đổi tên thành làng Văn Lâm. Lí do tránh tên kỵ (huý) của bà phi tần Hồ Thị Hoa (vợ vua Minh Mạng, mẹ của vua Thiệu Trị). Cùng thời gian này các địa danh, tên đơn vị hành chính,… có từ “Hoa” đều phải đổi thành tên khác như: huyện Kỳ Hoa thành Kỳ Anh, huyện Hoa Xuyên thành Cẩm Xuyên,…

- Làng Kẻ Sim: Vào đời Lê làng Văn Lâm có tên là làng Kẻ Sim, có thôn Sim Vải chuyên làm nghề trồng bông, dệt vải và thôn Sim Lụa chuyên trồng dâu, nuôi tằm.

Tại sao lại có tên là “tổng Hoa Lâm”, “tổng Văn Lâm”, “xã Ngu Lâm”?

Sách Địa chí huyện Đức Thọ (trang 537) viết: Xã Đức Lâm đời Lê, là xã Hoa Lâm bao gồm Kẻ Bượm (nay là Văn Xá), Kẻ Sim (thôn Tiền và thôn Hậu sau là Văn Lâm), làng Thuỵ Lâm sau là Ngọc Lâm và làng Thượng Ích. Các làng trên đời Nguyễn thuộc tổng Hoa Lâm, sau là tổng Văn Lâm.

Sau Cách mạng tháng 8/1945 vẫn giữ nguyên tên xã Văn Lâm, đến tháng 12/1948, Văn Lâm hợp nhất với xã Cổ Ngu thành xã Ngu Lâm. Tháng 8/1954, xã Ngu Lâm chia thành 3 xã: Đức Lâm, Đức Trung và Đức Thuỷ.

II. Con người và truyền thống

1. Trường học

Hoa Lâm ngày trước cũng như Văn Lâm bây giờ là một làng có truyền thống học hành, khoa bảng. Năm 1949, làng lập Trường Tiểu học Ngu Đông (phía Đông xã Ngu Lâm, gần Đền Làng). Năm 1956, lập Trường Cấp 2 Lê Ninh (trường này sau chuyển lên xã Đức An). Đến năm 1965, Trường Cấp 2 Đức Lâm được thành lập. Sau 46 năm tồn tại, đến năm học 2011-2012, trường sáp nhập vào Trường THCS Lê Văn Thiêm (đóng tại xã Trung Lễ). Khi lên cấp 3 con em trong làng học tại Trường Cấp 3 Trần Phú (đóng tại xã Đức Thuỷ).

2. Những người đỗ đạt cao

2.1. Thời phong kiến

Thời phong kiến, Làng Văn Lâm có nhiều người con đỗ đạt cao làm rạng danh dòng tộc và quê hương.

1. Trần Tước

Ông là người họ Trần (con cháu hiện nay có Trần Tịnh, Trần Niệm,…).

Trong Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Hồng Đức năm thứ 27 (1496) đặt ở Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) có ghi danh ông. Cụ thể là: Trần Tước (1470-?) người xã Cổ Ngu, huyện La Giang (nay thuộc xã Đức Lâm, huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan như Tri huyện, Giám sát Ngự sử.

2. Nguyễn Khắc Kính (Quan nhà Tự)

Ông là người họ Nguyễn Khắc (con cháu hiện nay có Nguyễn Lạng, Nguyễn Khắc Vỵ,…). Ông đỗ Tiến sĩ đời nhà Lê từng làm Tri huyện Kỳ Hoa (Kỳ Anh, Hà Tĩnh), Tri huyện phủ Thái Bình. Sau về làm Tri huyện phủ Đức Quang (Đức Thọ).

Anh Nguyễn Khắc Vỵ (hậu duệ đời thứ 7) cho biết: Làng Văn Lâm trước đây có vùng đất (ngày nay là vùng ruộng xung quanh giếng ông Thống) quanh năm úng uế, hôi bẩn. Để giúp người dân làng Văn khai uế vùng đất này, Nguyễn Khắc Kính đã cho làm con mương thoát nước xuống phía dưới rào. Khi làm đến đoạn qua trước Chùa Hoa Lâm Ngự thì ngài bị ốm và mất một cách đột ngột (nhiều người cho rằng vì ngài đã động đến đất Chùa, dẫn nước bẩn đi trước Chùa). Nguyễn Khắc Kính cùng họ với Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm ở Hương Sơn (dòng họ nổi tiếng với những người con tài giỏi như: Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Khắc Phi,…).

Điều đặc biệt là thầy dạy Nguyễn Khắc Kính là Quan giáo họ Nguyễn (con cháu hiện nay là ông Nhự, ông Nhuần) - anh Vỵ cho biết thêm.

3. Nguyễn Đăng Quỳnh (Quan nhà Cống)

Ông là người họ Nguyễn Duy (con cháu hiện nay có ông Ái, ông Trung, ông Cần, ông Lạng,…). Ông đậu Cử nhân cuối nhà Lê, từng làm Tri huyện Thanh Chương (Nghệ An).

4. Nguyễn Bá Thiều (Phấn Lực Tướng Quân)

Ông là người họ Nguyễn Bá, sống vào cuối đời nhà Lê đầu nhà Nguyễn. Ông được phong là Phấn Lực Tướng Quân (ngang Trung tướng hoặc Thượng tướng ngày nay). Lúc về hưu được phong Thiên Hộ (người làng thường gọi là can Thiên Hộ). Ông không lập gia đình (theo Gia phả họ Nguyễn Bá).

5. Nguyễn Dưỡng Giá

Ông là người họ Nguyễn (đến nay chưa rõ là họ Nguyễn nào trong làng Văn Lâm).

Sách Đức Thọ đất và người (trang 434, 435) viết: Nguyễn Dưỡng Giá (cuối thế kỉ XIX): Nhà thơ, thường gọi Tú Xanh, không rõ năm sinh và năm mất, người làng Văn Lâm, xã Đức Lâm, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông học giỏi, thi đỗ Tú Tài năm 1885, là con rể tuần phủ Lê Dụ ở Trung Lễ. Khi vua Hàm Nghi ra sơn phòng Hương Khê xuống chiếu Cần Vương, ông cùng với nhiều sĩ phu Hà Tĩnh lên yết kiến và được phong chức Thương biện Quân vụ kiêm Ngự tiền Văn hỗ giá (cùng với Ngự tiền Võ hỗ giá là Tăng Bạt Hổ). Năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt, ông về quê rồi đi tu ở một ngôi chùa vắng gần làng Yên Phúc, nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ. Năm 1890, Phan Đình Phùng từ Bắc về, phát triển phong trào Cần Vương, cho người đi tìm Nguyễn Dưỡng Giá, nhưng ông không rời chùa. Khi Phan Đình Phùng mất, ông làm bài thơ Nôm Điếu Phan Đình nguyên. Ngoài ra, ông còn để lại một số câu đối và các bài thơ như Điếu Lê Ninh, Điếu Lê Trực,…

6. Luật sư Phan Nhuận (1914 - 1963)

Ông là người họ Phan, con ông Phan Hải (cố Cụ), em trai ông Phan Dương (Bát phẩm Hường lộ, Phó Sứ Sơn Phòng Ai Lao Cao Min (Lào).

Sách Đức Thọ đất và người (trang 457) viết: Những năm 1930 - 1931, ông tích cực tham gia phong trào yêu nước ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Người anh cả Phan Dương lo sợ em bị giặc bắt nên tìm mọi cách đưa Phan Nhuận sang Pháp du học. Tại đây, ông đậu hai bằng Cử nhân - Luật khoa và Văn khoa, làm việc tại Toà Thượng thẩm Paris với chức danh Luật sư. Ông là luật sư giỏi, nhưng những lần làm “thầy cãi” cho lính thợ, không bao giờ lấy thù lao. Ông từng phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp (khoảng tháng 10 năm 1946) trong những buổi tiếp xúc với khách quốc tế. Sau lần gặp gỡ này, ông bắt đầu dịch Nhật kí trong tù từ tiếng Hán ra tiếng Pháp. Để có cảm hứng dịch thơ, Phan Nhuận tự nguyện làm đơn xin chính phủ Pháp cho làm tù nhân tại ngục Bastille, và ông đã dịch trọn 133 bài thơ của Hồ Chủ tịch. Đó là tập Nhật kí trong tù đầu tiên bằng tiếng Pháp với nhan đề Carnet de prison, được Nhà xuất bản Pierre Séghers ấn hành vào năm 1963 (về sau, Nhà xuất bản Ngoại văn Hà Nội in lại hơn chục lần).

Phan Nhuận viết nhiều về Việt Nam, về Bác Hồ, trong đó có bài Hồ Chí Minh, nhà Khổng học hay nhà Mác-xít đăng trên báo Văn học Pháp. Phan Nhuận cũng từng dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp, nhưng mới được khoảng 128 câu thì đột ngột bị bệnh qua đời. Cuộc đời của một kiều bào có nhiều hoạt động đóng góp cho nước nhà đã qua đi trong hoàn cảnh không vợ, không con. Ngôi mộ của ông tại nghĩa trang Parissien de Bagneux, Paris, được Việt Kiều xây lát đá hoa cương, gắn sao vàng và dòng chữ “Đời đời nhớ ơn anh - Luật sư Phan Nhuận”.

2.2. Thời hiện đại

Phát huy truyền thống hiếu học của dòng họ và quê hương, trong thời hiện đại, nhiều người con làng Văn đã vượt khó vươn lên học giỏi, đỗ đạt cao.

1. Phan Thanh Dẫn (1933-2016)

Ông là con trai ông Phan Dương, cháu nội ông Phan Hải (Cố Cụ). Ông vào ngành Y từ năm 1953, công tác tại Ban Phòng bệnh Trung ương ở Việt Bắc. Năm 1954 chuyển về làm Trưởng phòng Y tế quận 6, Hà Nội; từ năm 1957 theo học Đại học Y khoa Hà Nội; tốt nghiệp năm 1960 và giảng dạy tại đây cho đến năm 1964. Hai năm tiếp đó ông là chuyên gia Y tế Việt Nam tại Algérie; từ năm 1966 cho đến lúc nghỉ hưu, ông là Phó Chủ nhiệm bộ môn Mắt, Trường Đại học Y khoa Hà Nội, được nhà nước phong học hàm Phó Giáo sư và danh hiệu Nhà giáo Ưu tú.

2. Nguyễn Nghi

Ông người họ Nguyễn Bá sinh năm 1936 (là con trai ông Nguyễn Nga), Phó Giáo sư, Tiến sĩ khoa học ngành Thuỷ lợi. Ông tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Thuỷ lợi tại Liên Xô năm 1961, về nước công tác tại Học viện Thuỷ Lợi; năm 1968 - 1971 ông lại sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh và bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ; về nước nhận công tác tại Ban Nghiên cứu Công trình Sông Đà. Từ năm 1973, ông đảm nhiệm chức Phó Chủ nhiệm khoa Thuỷ Công - Thuỷ điện, Trường Đại học Thuỷ Lợi Hà Nội. Từ năm 1980, ông chuyển công tác tại Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh.

3. Võ Hành

Ông người họ Võ (nhà thờ hiện nay gần nhà ông Canh) sinh năm 1948, Giáo sư, Tiến sĩ Sinh học. Từ năm 1967-1973, ông học tại Đại học Tổng hợp Kisiniov (Liên Xô), ngành Sinh lí thực vật; về nước, ông làm cán bộ nghiên cứu Viện Nghiên cứu Biển (Viện Khoa học Việt Nam); năm 1976 chuyển sang giảng dạy tại Khoa Sinh, Trường Đại học Sư phạm Vinh. Được cử sang tu nghiệp tại Đại học Tổng hợp Kisiniov, năm 1983, ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ ngành Sinh học, chuyên ngành Thực vật học. Trở về Khoa Sinh, Trường Đại học Sư phạm Vinh, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Phó Chủ nhiệm khoa Sinh học, Chủ nhiệm bộ môn Thực vật - Sinh hoá, Chủ nhiệm Khoa Sinh học. Ông được phong chức danh Phó Giáo sư năm 1996 và chức danh Giáo sư năm 2001.

4. Nguyễn Đình Thức

Ông người họ Nguyễn Bá sinh năm 1934, học Sư phạm tại Khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc); sau 1954 về học tại Hà Nội, tốt nghiệp năm 1957. Đi dạy học rồi học hàm thụ tại Trường Đại học Sư phạm Vinh. Các chức vụ đã đảm nhận: Hiệu phó, kiêm Bí thư Đảng uỷ Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ Tĩnh; sau chuyển sang làm việc ở Ban Khoa giáo tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh. Về hưu sống tại Vinh.

Ông là hiệu trưởng đầu tiên của Trường THPT Can Lộc (huyện Can Lộc, Hà Tĩnh).

5. Nguyễn Văn Thọ

Ông người họ Nguyễn Duy sinh năm 1957, Thiếu tướng, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng quân chủng Phòng không Không quân. Sau khi tốt nghiệp Cấp 3 phổ thông, năm 1975, ông trở thành chiến sĩ Đoàn 22, Quân khu IV; rồi trở thành học viên bay, trường Sĩ quan Không quân Nha Trang; từ năm 1976-1979, ông học Sĩ quan lái máy bay tại Liên Xô, về nước lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Sĩ quan Phi công Mig 21, trung đoàn 929, sư đoàn 370; Sĩ quan Phi công SU 22, trung đoàn 923, sư đoàn 370. Sau khoá học Chỉ huy Tham mưu Không quân cấp Chiến dịch, chiến lược tại Học viện Gagarin, Liên Xô, ông đảm trách chức vị Phó sư đoàn kiêm Tham mưu trưởng, rồi Sư đoàn trưởng Sư đoàn 372; từ năm 2011, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng quân chủng Phòng không Không quân.

III. Các danh thắng và di tích lịch sử văn hoá

Ngày trước làng Hoa Lâm có Đền Làng, Chùa Hoa Lâm Ngự, Nền Tế (phía sau nhà ông Hoá, ông Kỳ) và một nhà Văn Thánh của tổng Văn Lâm. Hiện nay, các di tích còn lại chỉ còn Đền Làng (nền đất cũ, hiện con cháu trong làng đang chung tay xây dựng lại) và Chùa Hoa Lâm Ngự.

1. Đền làng Văn Lâm

Theo văn hoá của người Việt xưa thì khi lập làng cùng với đó là lập Đền thờ Thành hoàng (Thành hoàng hay Thần hoàng, Thần Thành hoàng, là vị thần được tôn thờ chính trong đình làng Việt Nam. Thần Thành hoàng có thể mang nhiều cái tên khác nhau tùy theo làng. Dù là ai thì vị thần này cũng là người cai quản cõi thiêng của làng và đều mang tính chất chung là hộ quốc tỳ dân (hộ nước giúp dân) tại địa phương).

Làng Văn Lâm cũng vậy, từ khi lập làng đã xây dựng đền làng, lúc đầu chỉ có Thượng Điện, Thiêu hương bằng gỗ lim lợp tranh. Đến năm Bính Tý (1936) được trùng tu, xây lợp lại hoàn chỉnh. Khuôn viên Đền rộng hơn một mẫu, kiến trúc gồm 6 toà nhà lớn (Thượng điện – Trung điện - Hạ điện; Tả vu - Hữu vu; Tam quan) được chạm trổ rất tinh vi và trang nghiêm, nhiều đồ tế khí quý. Trong đền có treo các sắc phong của nhiều triều vua ban.

Hàng năm cứ đến ngày mồng 6 Tết và Rằm tháng 6 (15-6 ÂL) làng mở hội tại Đền để làm lễ cầu phúc, rước sắc vua ban và rước Thành hoàng làng đi về các thôn liên xã rồi sau đó lại rước về đền. Trai tráng trong làng phải đi đông đủ, ai không đi rước phải nạp tiền phạt.  

Trong lễ hội diễn ra nhiều hoạt động vui chơi mang đậm bản sắc văn hoá của làng quê Việt Nam như: cờ thẻ, đánh đu, múa sắc bùa, hát ví, vè, dặm,... Cuối buổi lễ họp làng do tiên chỉ văn thân, chức sắc điều hành công bố sổ sách nghĩa thương, kiểm điểm việc thực hiện hương ước, đề đạt việc làm công ích, cũng như các mặt xã hội trong làng.

Sau tháng 8/1945, nhà nước tiến hành “hợp tự” đền Tiền Hậu ra đền Cả (Đền Voi Mẹp) tại Đức Thuỷ. Từ đó đền làng trở thành nơi hội họp, mít tinh, cơ quan làm việc, trường học nên trở thành mục tiêu đánh phá của Pháp.

Vào tháng 4/1953, chi bộ Đảng đang họp trong đền thì có hai  máy bay của thực dân Pháp đến ném bom. Các đồng chí đảng viên vẫn an toàn nhưng đền bị hư hỏng nặng. 

Đến tháng 8/1953, máy bay Pháp dội liên tiếp hai quả bom tấn xuống toà nhà Trung điện làm cả 6 toà nhà đổ sập và hư hỏng hoàn toàn.

Mất đi ngôi đền quanh năm trầm mặc khói hương - mất đi nơi thờ Thành hoàng làng linh thiêng với lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa quê hương, người dân làng Văn đau lắm, xót lắm. Sự mất mát - nỗi đau đó không gì bù đắp nổi. Hiện nay con cháu trong làng đang chung tay xây dựng lại đền làng trên vết tích của nền móng cũ còn lại.

Đền làng Văn Lâm thờ ai?

Trong sách Địa chí huyện Đức Thọ (trang 617) ở cột thứ tự số 76 có thống kê Đền Tiền Hậu ở Làng Tiền Hậu nhưng ở cột “Vị thần được thờ” lại đánh dấu chấm hỏi (?), có nghĩa là chưa có thông tin về vị thần được thờ.

Theo một nghiên cứu của ông Nguyễn Bá Kiểu thì Đền làng Văn Lâm thờ Thành Hoàng với hiệu “Linh Ứng Đại Vương”.

Tiếc rằng đây cũng chỉ là tên hiệu vậy tên thật của ngài là gì?

Sau khi nghiên cứu các nguồn tài liệu nêu trên, theo tôi, Đền làng Văn Lâm thờ ngài Lý Nhật Quang (con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ).

Các căn cứ để đưa ra nhận định:

i) Lý Nhật Quang là người đã có công lớn trong việc khai phá nên vùng đất Đức Thọ nói chung và vùng đất Cổ Ngu nói riêng.

ii) Tìm hiểu các Đền thờ Thành hoàng của các làng xung quanh làng Văn Lâm thì thấy đều thờ Lý Nhật Quang, cụ thể:

- Đền Tam toà Đại Vương (thường gọi Đền Cả, ở thôn Hữu Chế, xã Đức An): Theo bản thần tích (chữ Hán) do cụ Nguyễn Tràng giữ, Thái Kim Đỉnh dịch thì thần đền là Tam toà đại vương Lý Nhật Quang.

- Đền Tam thôn (Tiền, Hậu, Trại) ở xã Đức Dũng: Đền có câu đối “Lý triều kiệt xuất trung hưng tướng - Nam quốc cao danh thượng đẳng thần”. Theo cụ Thái Kim Đỉnh thì đền này thờ Tam toà đại vương Lý Nhật Quang.

iii) Hợp lí với tên hiệu “Linh Ứng Đại Vương”, vì chỉ có con cháu dòng dõi nhà vua với được gọi “Vương”.

2. Chùa Hoa Lâm Ngự

Chùa Hoa Lâm Ngự nằm giữa cánh đồng lúa, nhìn từ xa như một cù lao. Chùa được xếp hạng di tích cấp Tỉnh (theo Quyết định số 1796/QĐ-UBND ngày 27/6/2008 của UBND tỉnh Hà Tĩnh).

Theo truyền thuyết, chùa được Công chúa Vương Mĩ Ngọc con gái vua Trần Trùng Quang xây dựng vào đầu thế kỉ XV. Trong lúc thăm thú vùng đất Chi La, khi qua xứ Hoa Lâm, công chúa thấy đất nơi đây có thế “rồng chầu hổ phục” nên về nhà xin vua cha cho xây dựng chùa, đặt tên là Hoa Lâm tự. Chùa Hoa Lâm Ngự toạ lạc trên gò đất hình tròn có diện tích 1882 m2, giữa cánh đồng lúa xa khu dân cư, mặt ngoảnh về hướng Nam, bao quanh là cây cối um tùm. Chùa được khởi xây vào khoảng năm 1409-1413, là một công trình lớn với hai toà nhà đẹp và uy nghi, hơn 150 pho tượng Phật có giá trị. Sau khi cuộc khởi nghĩa Trần Trùng Quang thất bại, quân Minh đã đốt phá chùa.

Sau khi Lê Lợi đánh thắng giặc Minh (1427), nước nhà độc lập, để tưởng nhớ tới công lao nhà Hậu Trần và công chúa Mĩ Ngọc, năm 1428, người dân làng Văn Lâm đã dựng lại ngôi chùa trên nền cũ.

Đời vua Lê Thánh Tông, sau cuộc nam chinh thắng lợi trước quân Chămpa, nhà vua đã dừng thuyền tại đây và vào thăm chùa. Nhà vua thấy chùa quá nhỏ, đồ tế khí lại ít nên động lòng trắc ẩn, đã xuống chiếu cho quan lại địa phương và người dân trong vùng trùng tu lại chùa. Nơi nhà vua dừng thuyền cũng được đào cho rộng để thuận tiện cho thuyền bè đi lại hơn, nơi đó được gọi là “Vũng Ngự”. Ngôi chùa cũng bắt đầu có thêm chữ “Ngự”, tên mới đầy đủ là “Hoa Lâm Ngự tự”.

Năm 1886, chùa bị giặc Pháp đốt cháy, năm 1897, vua Thành Thái cho sửa lại. Năm 1931, phát hiện chùa là trụ sở lãnh đạo phong trào Xô Viết của tổng Văn Lâm, lính Pháp đã đốt phá làm chùa hư hỏng nặng; đến năm 1937, chùa được trùng tu lại.

Trước tháng 8/1945, trong chùa có nhiều cây cảnh, cây cổ thụ rợp bóng mát. Đặc biệt có một cây xoài cao khoảng trên 30 m, đường kính 1,5 m, đã tồn tại hơn 300 năm. Các cụ cao niên trong làng kể lại rằng, đi cắt cỏ, lấy củi ở trong Khe Lang nhìn về làng là thấy cây xoài của chùa. Năm 1949, làng xây dựng Trường Tiểu học Ngu Đông nên đã chặt cây xoài để đóng bàn ghế.

Nơi Vũng Ngự có hòn “đá Nậy” khoảng 3 m2, dày khoảng 15 cm. Theo các cụ cao niên kể lại thì đó là nơi mà người Tàu (muốn khôi phục nhà Minh) chạy trốn nhà Thanh đã làm dấu để chôn vàng và hài cốt. Khoảng cuối thế kỉ XIX, sau một trận lụt họ đã lật hòn đá và lấy của cải đem về, mà dân làng không ai biết.

Sau tháng 8/1945, chùa không được tiếp tục tế lễ, tiếp đó là chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, rồi phong trào Hợp tác hoá nông nghiệp,… nên ngôi chùa bị tàn phá, hư hỏng gần hết, cây cối bị chặt trụi, chỉ còn lại ngôi nhà Thượng điện. Chiến tranh kết thúc, Hội người cao tuổi làng Văn Lâm đã trồng nhiều cây xanh trong khuôn viên chùa.

Trước năm 1957, có ông Phạm Bính, sống tại Đông Khê (Đức Thuỷ), quê gốc Quỳnh Lưu (Nghệ An) đã ở và chăm sóc chùa.

Năm 1995, Ni cô Nguyễn Thị Linh (1944-2005), tức là O Lục, con cố Thể người trong làng sau khi về hưu đã đến ở tại chùa. O Lục và người dân địa phương, các nhà hảo tâm đã đóng góp công sức, tiền của khôi phục lại Thượng điện, xây thêm Hạ điện và nhà tiếp khác, quy hoạch lại khuôn viên, trồng thêm nhiều cây cổ thụ, cây hoa, cây cảnh; sắm thêm đồ tế khí, tượng Phật, xây lại cổng,… làm cho chùa đẹp và khang trang hơn nhiều.

Kiến trúc chùa Hoa Lâm Ngự hiện nay theo kiểu chữ đinh, bao gồm nhà hạ điện, nhà thượng điện và nơi ở của ni cô trụ trì. Nhà hạ điện được xây mới năm 2000, diện tích 62,62 m2, hai gian, hai hồi, mái lợp ngói mũi hài, thẳng, trong nhà có tượng Quan Âm Bạch y. Nhà thượng điện có chiều dài 4,72 m, rộng 5,4 m, bộ khung bằng gỗ cũng có nhiều năm tuổi, chính giữa nhà là bức đại tự chữ Hán “Hoa Lâm Ngự tự” có từ thời vua Thành Thái; bàn thờ chính bài trí ở giữa và hai bàn thờ phụ hai bên, với nhiều tượng Phật và các đồ tế khí.

3. Các di tích khác

3.1. Đường Mới

Năm 1953, làng đắp con “Đường Mới” từ nhà anh Dũng Định đến Quốc lộ 15 (quốc lộ 15 chạy qua làng Văn Lâm khoảng 2 km, quốc lộ 15 bắt đầu từ ngã ba Giang (xã Phù Việt, Thạch Hà) đến ngã ba Lạc Thiện (xã Trung Lễ, Đức Thọ); con đường này được làm từ những năm 1923 đến 1925) để giao thông thêm thuận lợi.

Cũng trong khoảng thời gian này, làng mở con đường chạy giữa làng nối xóm Thuỵ (từ nhà anh Bảy Lạng) với xóm Thộ (nhà trẻ Đầu Thộ). Theo các cụ cao niên thì từ khi mở con đường này đã phá đi phong thuỷ của làng (xẻ đôi làng) nên người Văn Lâm học giỏi nhưng ít “làm to”, người Văn Lâm đi ra ít yêu thương và đùm bọc nhau như các làng khác trong vùng.

3.2. Vũng Ngự

Từ xưa đã có con hói chảy từ Khe Lang qua Đức Dũng, xuôi gặp sông Đò Trai. Khi chảy qua làng Văn Lâm tạo thành một vũng to gọi là “Vũng Ngự” hay là “Bến Ngự” - nơi nhà vua Lê Thánh Tông dừng thuyền để lên thăm Chùa Hoa Lâm.

Năm 1976, nhà nước cho đào con hói này thẳng tắp từ cầu Chợ Giấy về xuôi luôn, không uốn cong như trước nữa. Phía sau làng có kênh đào Mười Chín Tháng Năm (19/5) mà tiền thân của nó là dòng kênh chợ Chùa.

3.3. Chợ Giấy

Chợ Giấy không thuộc làng Văn Lâm nhưng nó như là một phần văn hoá của làng Văn Lâm từ xưa đến nay.

Xuất xứ của tên Chợ Giấy: Hồi ấy quan Nghè Phan Phúc Cẩn (1458-?) ở trên Kẻ Hạ vào đây mở trường dạy học, cho mở cái chợ để bán giấy bút cho học trò, chợ có nhiều hàng giấy, ở đâu cần mua cũng phải đến đây.

Tết Nguyên tiêu viết những dòng này để thêm yêu quý và tự hào về làng mình, nơi mình sinh ra - làng Văn Lâm.

Văn Lâm, chiều Tết Nguyên tiêu Giáp Thìn

Phan Duy Nghĩa

……………………………………..

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lời kể của các cụ cao niên trong làng

2. Gia phả của một số dòng họ trong làng

3. Hồ sơ lý lịch di tích Đền Voi Mẹp (trình Bộ Văn hoá công nhận di tích cấp Quốc gia năm 1996 - Lưu tại Thư viện tỉnh Hà Tĩnh)

4. Kỷ yếu Hội thảo “Văn hoá làng và xây dựng làng văn hoá” của Sở Văn hoá Thông tin Hà Tĩnh năm 1995

5. Làng cổ Hà Tĩnh (Thái Kim Đỉnh chủ biên)

6. Hà Tĩnh đất và người (Thái Kim Đỉnh chủ biên)

7. Chùa cổ Hà Tĩnh (Thái Kim Đỉnh chủ biên)

8. Địa chí huyện Đức Thọ (Thái Kim Đỉnh chủ biên)

9. Đức Thọ đất và người (Đoàn Tử Huyến chủ biên)


Nhắn tin cho tác giả
Dòng Tộc Họ Phan @ 21:12 25/02/2024
Số lượt xem: 939
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến